Ứng dụng đá khô (Co2 rắn) Phần 2

ung-dung-da-kho-co2-ran-phan-2

Đá khô (Co2 rắn) đã được Indochinagas giới thiệu trong các bài viết trước. Hôm nay Indochinagas sẽ giới thiệu thêm tới bạn đọc những ứng dụng khác của đá khô trong đời sống hàng ngày cũng như trong sản xuất công nghiệp hiện đại.

Nước đá khô (dry ice) là dạng carbon dioxide đông lạnh (CO2, khí các-bô-níc) , là chất mà động vật thải ra và cây cần để quang hợp. Vì nhiệt độ thấp của nó (-78,50C), nước đá khô được dùng làm chất làm lạnh. Nó cũng tương đối dễ sản xuất.

Thỉnh thoảng các nhà khoa học chỉ cần một số lượng nhỏ nước đá khô. Điều này có thể làm bằng cách mở van của thùng các-bô-níc lỏng và đặt một cái túi vải ở miệng vòi. Một hỗn hợp khí các-bô-níc và nước đá khô được tạo ra khi một phần khí thoát ra cô đặc lại trong túi. Đây là cách trực tiếp nhất để tạo ra một lượng nhỏ nước đá khô dùng trong phòng thí nghiệm.

Để tạo ra đá khô với số lượng lớn, cần phải làm lạnh hơi. Đầu tiên, khí các-bô-níc hóa lỏng được tạo ra bằng cách nén khí các-bô-níc. Vì nhiệt độ của một chất tăng lên khi nó bị nén, khí phải được làm lạnh trong suốt quá trình nén để đẩy nhanh quá trình tạo lỏng. Nếu khí bên trong bình nén ở nhiệt độ phòng, quá trình hóa lỏng bắt đầu khi áp suất trong bình là 6.000 kilopascal (870 pound/ inch vuông)

Bước tiếp theo là tương đối đơn giản. Nếu có vấn đề khó khăn nào, thì đó là một số phân tử chuyển động nhanh, trong khi một số khác thì chậm. Vận tốc trung bình của chúng là những gì mà chúng ta biết là nhiệt độ. Nếu một bình ni-tơ lỏng được cho bay hơi một phần, những phân tử nhiều năng lượng hơn sẽ thoát ra, tạo ra động lượng trung bình của phân tử trong hỗn hợp, và vì vậy là nhiệt độ, giảm xuống. Sau khi đủ nhiệt để bay hơi, nhiệt độ của chất lỏng hạ xuống dưới điểm đông lạnh, sự chuyển pha xảy ra, và chúng ta thu được khí CO2 rắn – nước đá khô.

Nước đá khô được chứa trong thùng cách nhiệt. Khi để ra ngoài không khí, nó ngay lập tức thải ra khí các-bô-níc, vì sự chênh lệch nhiệt độ giữa nước đá khô và môi trường là rất lớn, nó bỏ qua giai đoạn hóa hỏng mà chuyển ngay thành khí. Một số chuyển thành dạng hơi, nhìn trông như sương mù.

Những ứng dụng của nước đá khô.

Được sử dụng trong hàng thập kỷ, nước đá khô đã trở nên ngày càng thông dụng trong 30 năm qua.

Sự sử dụng thông thường nhất là trong ngành thực phẩm, nơi nó được dùng để bảo quản những loại thực phẩm dễ hư hòng và thêm khí các-bô-níc vào chất lỏng. Thêm đá khô vào bất cứ nước trái cây nào hoặc nước cũng tạo thành đồ uống sủi bọt. Ví dụ, có thể làm đồ uống không cồn ở nhà bằng cách thêm nước đá khô vào tinh chất đồ uống và nước. Nước đá khô cũng ngăn sự phát triển của vi khuẩn, vì thế nó được dùng để bảo quản hạt giống khô, ngũ cốc, bột và làm chậm quá trình lên men nướng.

Sự sử dụng tiêu biểu của đá khô là làm lạnh trái cây. Trái cây làm đông lạnh bằng đá khô sẽ chắc chắn khi rã băng, không bị mềm nhũn. Pop Rock, một loại kẹo có các-bô-níc, sẽ “bùng nổ” khi cho vào miệng, được làm với nước đá khô nén áp suất. Những người đi dã ngoại có một ứng dụng khác với nước đá khô: chúng có thể giữ cho thực phẩm tươi lâu hơn mà không sợ chúng bị mềm nhũn.

Nước đá khô cũng dùng trong ngành dược, nơi chúng được dùng để bảo quản và vận chuyển những chế phẩm sinh học. Các bác sỹ thẩm mỹ dùng nước đá khô để làm đông mụn để dễ lấy ra.

Ngành công nghiệp giải trí rất hay dùng nước đá khô. Nước đá khô dùng làm sương mù trong các hiệu ứng đặc biệt. Khi đá khô tiếp xúc với nước, nó cô đặc và tạo thành dạng sương mù trắng dày. Nó được thực hiện bỡi một máy làm sương mù hoăc đơn giản là một dĩa kim loại dày. Vì nước đá khô có thể làm kim loại co rút lại, một sử dụng thông thường của nước đá khô là làm co rút các phụ tùng trước khi lắp ráp.

Một ứng dụng ít được biết đến của nước đá khô là đuổi muỗi và bọ gỗ cánh cứng. Muỗi thường được hấp dẫn bỡi CO2 và có xu hướng bay về phía nước đá khô. Đặt một ít nước đá khô xung quanh cái bẫy muỗi để đuổi nó tránh xa. Bọ gỗ cánh cứng cũng được loại bỏ khỏi đồ gỗ trong nhà bằng cách đặt một ít đá khô trong dụng cụ làm lạnh dán kín. Côn trùng và trứng của chúng sẽ ngợp trong vòng 24 giờ.

Nước đá khô cũng có thể gây nguy hiểm nếu như bất cẩn. Với nhiệt độ thấp, nước đá khô có thể làm da cháy lạnh và gây khó thở. Nên dùng găng tay khi cầm nước đá khô. Nếu dùng nước đá khô ở trong phòng kín, nên thông gió tốt.

Lịch sử ra đời của đá khô – giải mã đá khô

giai-ma-da-kho

Đá khô là từ mà có thể nhiều người còn chưa rõ là gì và tác dụng của nó ra sao. Hôm nay Indochinagas sẽ giới thiệu và giải mã toàn bộ thắc mắc về đá khô cho bạn đọc.

Theo HowMeet, đá khô là tên gọi được đặt cho carbon dioxide khi nó tồn tại ở trạng thái rắn. Carbon dioxide được tìm thấy trong bầu khí quyển của trái đất: nó là chất khí mà con người thở ra và cây cối dùng để quang hợp tạo ra chất diệp lục. Hợp chất hóa học này không màu, không mùi, không vị và có độ đậm đặc gấp 1,5 lần không khí bình thường.

Carbon dioxide chuyển từ thể khí sang thể rắn màu trắng đục dưới áp suất và nhiệt độ thấp (âm 109 độ F hoặc âm 178,5 độ C). Đá khô được sản xuất chủ yếu ở hai dạng: một khối băng khô nặng trên 20 kg hoặc các miếng nhỏ có kích thước khác nhau (từ kích thước một hạt gạo đến những viên lớn hơn).

Đá khô không tan, thay vào đó nó sẽ thăng hoa, nghĩa là nó sẽ chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái khí (bỏ qua trạng thái lỏng) khi nhiệt độ bắt đầu tăng lên. Vì tính chất này mà đá khô thường được dùng để mô phỏng sương mù hoặc khói trong biểu diễn nghệ thuật hoặc tại các nhà hàng….

Đá khô tự nó không có độc nhưng bề mặt viên đá khô rất lạnh và có thể gây ra hiện tượng “bỏng lạnh” khi tiếp xúc bằng tay mà không đeo găng, hiện tượng này xảy ra khi da người tiếp xúc với các bề mặt có nhiệt độ dưới 0 độ C. Ngoài ra, do tính chất nặng hơn không khí nên carbon dioxide ở trạng thái khí có thể tập trung ở các khu vực thấp hoặc trong không gian kín. Khi nồng độ carbon dioxide trong không khí vượt quá 5%, carbon dioxide trở nên độc hại. Vì vậy, khi sử dụng carbon dioxide thì không gian phải thoáng đãng để tránh gây ngộ độc.

giai-ma-da-kho

Để biến đổi khí carbon dioxide thành dạng rắn khá đơn giản. Nhiều nhà sản xuất đá khô đã được thành lập và hoạt động ở Hoa Kỳ từ lâu và sản phẩm này được vận chuyển đến nhiều vùng của đất nước cho nhiều mục đích khác nhau. Nó là chất quan trọng để giữ lạnh và ngăn ngừa vi khuẩn trong thức ăn phát triển trong khi vận chuyển. Đá khô được sử dụng để làm mát hoặc đông lạnh thực phẩm phải rất sạch sẽ và người ta gọi đây là “thực phẩm cấp đông”.

Bởi vì đặc tính thăng hoa (chuyển từ thể rắn sang thể khí) mà một lượng lớn đá khô có thể được đưa vào thùng container mà không lo chảy nước như khi dùng nước đá thông thường để làm lạnh thực phẩm. Công dụng của đá khô trong lĩnh vực thực phẩm rất đa dạng, bao gồm đóng băng nhanh chóng các loại thực phẩm để sử dụng trong tương lai tại các nhà máy chế biến thực phẩm, làm chậm sự tăng trưởng của nấm men tại các xưởng bánh, giữ lạnh thực phẩm phục vụ cho ngành công nghiệp hàng không.

Các công dụng khác của đá khô bao gồm: làm chậm sự tăng trưởng của chồi hoa ở vườn ươm để giữ cây tươi cho người tiêu dùng, đóng băng nhanh trong ngành công nghiệp sản xuất cao su, hạn chế rò rỉ amoniac lạnh và tạo khói cho sân khấu khi biểu diễn nghệ thuật. Ứng dụng quan trọng nhất của đá khô gần đây là nổ băng (hoặc làm sạch), trong đó những viên đá khô được ném vào bề mặt được làm sạch với tốc độ cao. Các chất ô nhiễm cùng với carbon dioxide sẽ thăng hoa vào không khí và vật sẽ được làm sạch. Việc còn lại chỉ là bụi bẩn cần được xử lí sau đó.

Lịch sử

Đá khô không được phát minh ra, các thuộc tính của carbon dioxide rắn(Co2 rắn) đã được phát hiện vào những năm đầu thế kỷ XX. Đá khô lần đầu tiên được sản xuất thương mại vào năm 1920 tại Hoa Kỳ. Một công ty thương mại đăng ký nhãn hiệu tên đá khô vào năm 1925 và từ đó người ta gọi carbon dioxide ở thể rắn là đá khô.

Prest-Air Devices Company of Long Island là công ty đầu tiên sản xuất thành công đá khô tại New York vào năm 1925. Cũng trong năm đó, Schrafft đã sử dụng đá khô để giữ cho kem không tan chảy trong phòng khách của họ. Đá khô đã được sử dụng rộng rãi hơn để làm lạnh và đông lạnh thực phẩm từ giữa thế kỷ XX đến nay.

Hầu hết các loại kem trên thế giới đều sử dụng cách này để đông lạnh cho đến sau thế chiến thứ II khi mà các thiết bị điện lạnh đã có giá rẻ hơn và hoạt động hiệu quả hơn.

Việc sản xuất đá khô không có nhiều thay đổi trong nhiều thập kỷ qua và là một quá trình tương đối đơn giản khi ta dùng áp suất cao để làm lạnh khí carbon dioxide. Việc sử dụng đá khô đã giảm phần nào do sự tiện lợi của điện lạnh. Gần đây, người ta thường dùng đá khô để làm sạch nước, vận chuyển mẫu vật y tế, bao gồm cả trái tim, tay chân và các mô cho các cuộc phẫu thuật và cấy ghép.

Nguyên liệu thô

Nguyên liệu được dùng để sản xuất đá khô là carbon dioxide. Nguyên liệu này là sản phẩm phụ của các loại khí thải trong quá trình sản xuất hoăc tinh chế các sản phẩm khác. Hầu hết carbon dioxide được sử dụng trong sản xuất đá khô tại Hoa Kỳ có nguồn gốc từ khí phát ra trong quá trình sàng lọc của dầu mỏ và khí amoniac. Các carbon dioxide thải ra trong các quá trình này được hút ra và loại bỏ tạp chất (để trở thành carbon dioxide dùng được trong thực phẩm) và sau đó người ta sẽ tiến hành làm đá khô từ khí này.

Quy trình sản xuất đá khô

cong-nghe-san-xuat-da-kho

– Bước 1: Carbon dioxide được hóa lỏng bằng cách nén và làm lạnh, việc hóa lỏng được diễn ra ở áp suất 870 lb/2 (395 kg/cm 2) ở nhiệt độ bình thường trong phòng. Carbon dioxide được được bơm qua đường ống vào các bồn chứa lớn để các nhà sản xuất đá khô có thể loại bỏ những chất bẩn cần thiết.

– Bước 2: Carbon dioxide được vận chuyển với số lượng rất lớn, đôi khi nặng nhiều tấn. Vì vậy, hầu hết các nhà sản xuất đá khô thường đặt nhà máy gần những cơ sở lọc dầu hoặc ammoniac để giảm chi phí vận chuyển. Dưới áp lực, carbon dioxide lỏng được dẫn trực tiếp vào bể của nhà máy sản xuất đá khô.

– Bước 3: Các chất lỏng này được giữ lạnh để duy trì trạng thái lỏng trong các thùng lớn được nối trực tiếp với nơi sản xuất bằng ống áp suất để sử dụng khi cần thiết.

– Bước 4: carbon dioxide lỏng sau đó được vận chuyển một lần nữa qua đường ống từ các bể đến nơi chứa khuôn để sản xuất đá khô. Khi vận chuyển chất lỏng từ môi trường cao áp đến môi trường tương đương áp suất khí quyển, nó sẽ bay hơi ở tốc độ cao và các chất lỏng này sẽ chuyển sang thể rắn ở nhiệt độ -109 ° F (-78,3 ° C). Một vòi phun đưa chất lỏng vào một khuôn đứng khoảng 4,9 mét. Khuôn này được thiết kế đặc biệt với đầu vào có thể chịu được áp lực lớn từ nhiên liệu. Khi lượng khí carbon dioxide lỏng đi vào khuôn đá khô, nó ngay lập tức đông lại ở nhiệt độ phòng. Carbon dioxide bây giờ trông giống như tuyết.

– Bước 5: phần tuyết này sẽ được nén lại để trở thành đá khô. Dưới áp lực khoảng 60 tấn, tuyết được nén lại thành đá khô, toàn bộ quá trình kéo dài khoảng 5 phút. Một khối đá khô thường rộng 61 cm, cao 25 cm và có trọng lượng 100 kg.

– Bước 6: Khối đá khô này được đẩy ra khỏi khuôn và trượt trên một con lăn. Một lưỡi cưa bằng khí nén cắt khối đá khô này ra thành 2 phần bằng nhau và tiếp tục đưa vào một hệ thống cưa khác để cắt ra một lần nữa. Khối đá khô ban đầu đã được chia thành 4 phần bằng nhau, mỗi phần nặng 25 kg.

– Bước 7: Các khối đá khô này được đưa vào container và giữ lạnh để mức độ thăng hoa của chúng ở mức thấp nhất. Khi vận chuyển, các khối đá khô phải được đóng gói chặt chẽ, nếu được lấy ra trong thời gian này chúng sẽ hóa hơi toàn bộ. Nhiều nhà sản xuất sử dụng máy để quấn giấy lên đá khô trước khi giao cho khách hàng (nếu sử dụng tay sẽ dễ bị bỏng lạnh).

Quản lý chất lượng

Vấn đề quản lý chất lượng chủ yếu tập trung vào nguồn nguyên liệu carbon dioxide dùng để sản xuất đá khô. Gần đây, chính phủ Mỹ thiết lập các tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt đối với độ tinh khiết của carbon dioxide được sử dụng trong sản xuất đá khô. Nguồn nguyên liệu carbon dioxide lỏng cũng như độ tinh khiết của sản phẩm sau cùng phải vượt qua được các bài kiểm định trước khi được lưu hành ngoài thị trường.

Vấn đề kiểm soát cũng bao gồm việc đảm bảo hệ thống làm đá khô hoạt động một cách chính xác. Nếu áp lực không được duy trì đúng cách, sản phẩm sẽ không thể được sản xuất ra. Việc di chuyển các sản phẩm một cách nhanh chóng và hiệu quả sau khi cắt để lưu trữ cũng rất quan trọng vì đá khô sẽ nhanh chóng thăng hoa ở nhiệt độ phòng do đó nó sẽ giảm trọng lượng và giá thành khi bán ra (nếu không được bảo quản tốt). Phải đảm bảo việc đóng gói trong khâu vận chuyển trung gian để hạn chế sự thăng hoa.

Phụ phẩm / Xử lý chất thải

Không có hóa chất đáng kể được tạo ra trong sản xuất đá khô. Khi sản phẩm thăng hoa, các loại khí sẽ được giải phóng vào khí quyển và hầu như không gây ra tác động đáng kể nào với sức khỏe và môi trường.

Tương lai

Việc sử dụng đá khô trong tủ lạnh và lưu trữ thực phẩm có thể được giảm bớt nhưng một số lĩnh vực vẫn cần loại đá khô này. Như đã đề cập ở trên, đá khô có thể dùng để tẩy rửa, dùng bắn phá một ngôi nhà hay một thứ gì đó ở tốc độ cao để loại bỏ bụi bẩn hoặc các chất gây ô nhiễm khác. Gần đây, một công ty điện thoại sử dụng các viên đá khô như một cách an toàn làm sạch thiết bị thử nghiệm điện tử nhạy cảm thay vì dùng các dung môi nguy hiểm. Và còn rất, rất nhiều công dụng khác của đá khô đang chờ các bạn khám phá…

Ứng dụng bảo quản thi hài bằng đá khô

Với đặc điểm ưu việt của Đá khô (Co2 rắn) trong bảo quản lạnh (nhiệt độ lạnh sâu, tan dần thành khí mà không chảy thành nước như đá nước thông thường), nên đá khô Co2 rất phù hợp để bảo quản thi hài trong đám tang, vận chuyển đường xa.

Chuyển hóa ngay thành khí nên đá khô được sử dụng cho việc ướp xác

Chuyển hóa ngay thành khí nên đá khô được sử dụng cho việc ướp xác

Đá khô (Co2 rắn) khi đặt xung quanh thi hài để bảo quản giữ lạnh lâu và giữ cho thi hài khô ráo. Bởi khi đá tan ra sẽ thăng hoa ngay thành khí. Thời gian tan hoàn toàn thành khí của 1 kg đá CO2 khoảng 18 – 20h, vì vậy với một lượng đá khô thích hợp sẽ bảo quản thi hài trong thời gian lâu hơn.

Thông tin chi tiết về đá khô xem tại đây : http://indochinagas.com.vn/da-kho-co2-ran/

Đá Khô – ứng dụng làm sạch trong tương lai

Làm sạch bằng đá khô là một phương pháp vệ sinh cách mạng mà nó sử dụng những viên đá khô ( CO2 ở dạng rắn) làm nguyên liệu để bắn vào bề mặt cần làm sạch. Quy trình này rất thân thiện với môi trường và là phương pháp vệ sinh thiết bị sản xuất công nghiệp nhanh chóng và hiệu quả thay thế phương pháp truyền thống.

Vệ sinh bụi bẩn, gỉ sét với đá khô

Vệ sinh bụi bẩn, gỉ sét với đá khô

I. Làm sạch bằng đá khô là một quy trình kết hợp bởi 3 quá trình:

1. Động học. Khi những viên đá khô được gia tốc trong vòi phun khí nén và đập vào bề mặt với vận tốc âm thanh, chúng bẻ gãy và đánh bật lớp bám bên ngoài trên bề mặt cần được xử lý.

2. Nhiệt học. Nhiệt độ thấp của những viên đá khô (-79° C) làm cho lớp bám ngoài trở nên giòn, đột ngột co lại và tách ra khỏi bề mặt cần làm sạch. Nhiệt độ thấp cho phép đá khô xuyên qua lớp bám ngoài, bẻ gãy và đánh bật chúng.

3. Sự thăng hoa. Đá khô xuyên qua lớp bám ngoài và ngay lập tức thăng hoa (chuyển trực tiếp từ dạng rắn sang dạng khí). Điều này dẫn đến thể tích tăng lên 700 lần tạo nên một hiệu ứng nổ đánh bật lớp bám ngoài ra khỏi bề mặt.

II. Lợi ích của việc làm sạch bằng đá khô:

Tiết kiệm thời gian vệ sinh: Phương pháp làm sạch thông thường yêu cầu phải ngường thiết bị, tháo rời và đưa đến khu vực riêng để thao tác. Với phương pháp sử dụng đá khô, thiết bị được làm sạch tại chỗ, không cần tháo rời, thậm chí không cần dừng sản xuất trong một số trường hợp cụ thể.

Làm sạch kỹ lưỡng: Những khe nhỏ hay góc nhỏ của thiết bị sẽ không dễ dàng vệ sinh nếu sử dụng các biện pháp thông thường. Với sự linh hoạt các đầu vòi phun sự khó khăn trên trở lên đơn giản khi sử dụng phương pháp làm sạch bằng đá khô.

Không có chất thải thứ cấp: Chất thải sau khi làm sạch bằng đá khô toàn bộ là chất bẩn được loại bỏ khỏi bề mặt. Không có nước bẩn, cát bẩn hay hóa chất tẩy rửa như các phương pháp cũ. Việc sử lý chất thải trở lên đơn giản và tiết kiệm chi phí.

Không làm mài mòn bề mặt: Phun cát, dùng bàn chải hoặc dùng hóa chất tẩy rửa có thể làm hư hỏng bề mặt cần làm sạch, mài mòn bề mặt hoàn toàn không xẩy ra đối với phương pháp làm sạch bằng đá khô.

Chi phí thấp hơn: Thời gian chết của máy móc thiết bị được giảm xuống – năng suất sản xuất được tăng lên. Vệ sinh tại chỗ không cần tháo dỡ thiết bị – giảm thời gian chết của dây truyền. Không cần hóa chất và dung môi – không phải sử lý chất thải độc hại. Không làm hư hỏng bề mặt làm sạch – tăng tuổi thọ thiết bị.

An toàn và thân thiện với môi trường: Co2 không độc: An toàn cho người lao động; an toàn cho sản phẩm được sản xuất trên dây truyền; an toàn cho thiết bị và thân thiện với môi trường.

III. Ứng dụng của phương pháp làm sạch bằng đá khô:

Được ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các ngành công nghiệp. Các chất bẩn được loại bỏ hoàn toàn và hiệu quả vượt trội như sơn, gỉ sắt, dầu mỡ, các chất kết dính phải dùng dung môi với phương pháp thông thường, nhựa đường…

LinhLinh Kenjo

Nguy hiểm từ việc dùng đá khô không đúng cách

Đá khô được biết tới với rất nhiều ứng dụng trong đời sống : vệ sinh trong công nghiệp, tạo khói, giữ lạnh cho thực phẩm hơn nữa là dùng trong công nghệ ướp xác…. Nhưng nếu xử dụng không đúng cách thì đá khô lại là thứ mang lại nguy hiểm cho người dùng.

Khí CO2 - cung cấp khí CO2 uy tín

 

Trước thông tin hiện nay nhiều quán nước, nhà hàng sử dụng đá khô – loại đá không tan – thay cho đá nước khiến nhiều người sau khi sử dụng nước cảm thấy khó thở, chóng mặt, buồn nôn…, phóng viên đã đi khảo sát thực tế và trao đổi với các chuyên gia để tìm hiểu thực hư.

Sáng ngày 19/6, phóng viên có mặt tại một số cơ sở kinh doanh đá khô theo địa chỉ rao bán trên mạng để tìm hiểu thực hư của đá khô đang được dư luận quan tâm. Qua tìm hiểu cho thấy, đá khô được bảo quản trong thùng xốp cách nhiệt, để nơi nhiệt độ thấp, tránh ánh sáng trực tiếp. Kích thước viên đá tùy thuộc vào khuôn, dao động trong khoảng 1,5kg – 2,2kg/1 viên. Thùng chứa đá khô không được kín hoàn toàn vì khi thăng hoa, đá khô tạo thành khí sẽ làm tăng áp suất của thùng chứa, có thể gây nổ hoặc phá vỡ thùng chứa. Để giữ đá được lâu sau khi xuất ra khỏi kho giữ nhiệt, cần phải đóng gói qua nhiều lớp giấy và nilon, nhất thiết phải đựng trong hộp xốp để bảo quản. Bà Bích Ngọc ở 51 Đại Cồ Việt – Hà Nội cho biết, người sử dụng tuyệt đối không tiếp xúc trực tiếp với da trần mà sử dụng găng tay để tránh bị bỏng lạnh, càng không nên để trong tủ lạnh. Không nên mua dự trữ vì đá sẽ bay hơi theo thời gian. Nếu để 1 viên đá khô khoảng 2kg ra sân với nhiệt độ ngoài trời, chỉ khoảng 3 giờ sau, viên đá sẽ bốc hơi hết.

 

Đá khô hay CO2 rắn- Đá khói

Đá khô hay CO2 rắn- Đá khói

Khảo sát một số cơ sở sản xuất đá khô đều có một điểm chung là vận chuyển miễn phí nội thành nếu khách hàng mua từ 3kg trở lên (cơ sở sẽ bù hao hụt). Anh Nguyễn Đình Tú – một chủ cơ sở sản xuất đá khô phố Pháo Đài Láng chia sẻ, hiện nay, nhu cầu đá khô được nhiều người sử dụng. Khảo sát của PV có rất nhiều địa chỉ được rao bán trên mạng nhưng thực chất chỉ là địa điểm để giao dịch chứ kho và cơ sở sản xuất được đặt ở một nơi khác, nếu khách hàng cần mua có thể giao dịch qua điện thoại, số lượng bao nhiêu cũng có. Nếu so sánh với các cơ sở sản xuất đá sạch với 1 túi đá khoảng 5kg được bán với giá 6.000 – 7.000 đồng/túi thì đá khô bán đắt gấp 5 lần vì giá dao động từ 30.000 – 35.000 đồng/1kg. Cần phải sử dụng đá khô đúng cách Theo GS. Trần Hồng Côn – Giảng viên ĐH Khoa học Tự nhiên, loại đá này có bán trên thị trường rất nhiều. Đây là đá khô hay còn gọi với nhiều tên khác là đá khói, đá CO2 hay băng khói. Đá khô được sử dụng nhiều trong ngành công nghệ thực phẩm. Loại đá này được sản xuất bằng cách nén khí điôxít cacbon (CO2) thành dạng lỏng, loại bỏ nhiệt gây ra bởi quá trình nén và sau đó cho CO2 lỏng giãn nở nhanh. Sự giãn nở này làm giảm nhiệt độ và làm cho một phần CO2 bị đóng băng thành “tuyết”, sau đó “tuyết” này được nén thành các viên hay khối. Đá khô thường dùng để làm lạnh hay bảo quản rau quả tươi, thủy hải sản… Ngoài ra, đá khô dùng để bảo quản mô sinh vật và thiết bị y tế, vệ sinh công nghiệp, bảo quản thi hài, tạo các hiệu ứng khói trong sân khấu tiệc cưới, ca nhạc… Tuy nhiên, GS. Côn cảnh báo, cần phải sử dụng đúng cách, nếu không rất dễ gây ngộ độc CO2, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng. Đồng thời, khi tiếp xúc với đá khô, người sử dụng phải dùng găng tay cách nhiệt thích hợp như bao tay bằng cao su để di chuyển đá, không được chạm tay trực tiếp với loại đá này. Đá khô gây kích thích da và mắt. Tránh tiếp xúc với da, miệng, mắt và quần áo. Nếu trực tiếp cầm loại đá này hoặc nếu đưa cả viên đá khô vào miệng, ngoài nguy cơ bị ngộ độc, người sử dụng có thể bị lột da lưỡi, lột da tay do bị bỏng lạnh. TS. Hoàng Hoan – Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam cho rằng, thông thường, các chất đều có ngưỡng hóa học. Khi uống hoặc hít phải một lượng khí CO2 lớn sẽ gây độc tố. Tuy nhiên, dạng CO2 rắn này có nhiều cách làm, phải phân tích cụ thể thành phần mới có thể kết luận. Người sử dụng cũng không nên quá lo ngại. Trong cuộc sống hàng ngày, mọi người dễ gặp loại đá này trong các tiệc cưới khi cô dâu chú rể rót sâm panh vào tháp đá. Chỉ cần tránh xa hoặc nếu tiếp xúc thì nên sử dụng găng tay cách nhiệt sẽ không gây nguy hiểm.

Đá khô gây bỏng lạnh khi tiếp xúc trực tiếp

Đá khô gây bỏng lạnh khi tiếp xúc trực tiếp

Theo BS. Hà Phương (bacsinoitru.vn), đá khô không gây cháy hoặc nổ nhưng nó tạo ra áp suất do nó chuyển từ trạng thái đá khô rắn sang trạng thái khí carbon dioxide. Nếu đá khô được đặt vào một thùng niêm phong kín thì sẽ có nguy cơ vỡ thùng hoặc bật tung nắp thùng khi bạn mở nó. “Quả bom đá khô” tạo ra tiếng động rất lớn và làm bắn ra các mảnh thùng và mảnh đá khô. Bạn có thể bị tổn hại thính giác hoặc bị tổn thương do thùng đựng đá khô. Các mảnh đá khô cũng có thể găm vào da bạn khiến bạn tê cóng bên trong. Ðể tránh mối nguy hiểm này, không để đá khô trong chai, lọ hoặc thiết bị làm mát niêm phong kín. Tốt nhất nên bọc đá khô trong một túi giấy và để vào tủ lạnh hoặc thiết bị làm lạnh không niêm phong chặt chẽ.

LinhLinh Kenjo

Đá Khô – Công nghệ làm đá cả ngày không tan

Nhiều người thắc mắc tại sao lại có những loại đá cả ngày mà không thấy tan hết, liệu có độc hại gì không, đó có phải đá bình thường hay 1 loại chất hóa học nào ? 

Mới đây, nhiều người dân hoang mang trước thông tin một số quán nước đã sử dụng một loại đá viên có đặc tính đặc biệt, để ra ngoài không khí một thời gian dài nhưng không tan chảy – hoặc có tan chảy thì cũng rất ít. Khi uống nước có loại đá này, nhiều người có cảm giác cháy họng hay cầm nắm viên đá thấy có hiện tượng bỏng rát ở tay…

Vậy cơ chế khoa học để tạo nên loại đá đặc biệt này là gì? Liệu chúng có gây hại cho sức khỏe?

Đá khô có nhiều dạng - dạng tảng, dạng bún....

Đá khô có nhiều dạng – dạng tảng, dạng bún….

Qua xác minh, đây chính là nước đá khô hay còn gọi là đá khói, đá CO2, băng khói… Khác với loại đá thông thường được làm từ nước đóng băng, đá khô được sản xuất bằng cách nén khí dioxit carbon (CO2) thành dạng lỏng, loại bỏ nhiệt trong quá trình nén, sau đó cho CO2 lỏng giãn nở nhanh.

Sự giãn nở này làm giảm nhiệt độ và làm một phần CO2 bị đóng băng thành “tuyết”. Sau đó, phần “tuyết” sẽ được nén thành các viên hay khối lớn.

Nhiệt độ của đá khô rất thấp, khoảng - 78,5 độ C nên khi thăng hoa thành hơi chứ không hóa lỏng.

Nhiệt độ của đá khô rất thấp, khoảng – 78,5 độ C nên khi thăng hoa thành hơi chứ không hóa lỏng.

Chính bởi nhiệt độ thấp (khoảng – 78,5 độ C) và khi “thăng hoa”, bốc hơi thành khí chứ không như nước đá, tan ra thành nước. Chính vì lẽ đó mà đá khô thường được dùng để làm lạnh hay bảo quản rau quả tươi, thủy hải sản.

Ngoài ra, đá khô còn được dùng để bảo quản mô sinh vật trong y học, bảo quản thi hài, tạo hiệu ứng khói trên sân khấu… Khi đá khô tiếp xúc với nước, nó cô đặc và tạo thành một dạng sương mù trắng dày.

Khi đá khô tiếp xúc với nước sẽ tạo ra một dạng sương mù trắng dày.

Khi đá khô tiếp xúc với nước sẽ tạo ra một dạng sương mù trắng dày.

Mặc dù về bản chất, đá khô vô hại nhưng nếu không sử dụng đúng cách, chúng ta rất dễ bị ngộ độc CO2, bị bỏng, thậm chí dẫn đến tử vong. Chính vì được sản xuất bằng cách nén khí CO2 nên khi tan, đá khô sẽ tạo thành lớp khí CO2.

Khi uống nước có chứa đá khô, hay để khối đá khô lớn trong phòng kín, cơ thể sẽ có hiện tượng như bị ngộ độc khí CO2. Theo đó, người bệnh sẽ lên cơn hen phế quản, suy tim, nặng hơn là hôn mê sâu, nếu tỉnh thì cũng để lại di chứng như mất trí nhớ.

Đá khô không biết cách sử dụng có thể gây hại cho con người.

Đá khô không biết cách sử dụng có thể gây hại cho con người.

Với nhiệt độ thấp, đá khô có thể làm da cháy lạnh (hiện tượng bỏng lạnh), rát cổ họng (khi sử dụng nước có chứa đá khô). Do đó, bạn nên dùng găng tay khi cầm nước đá khô. Nếu dùng nước đá khô ở trong phòng kín thì cần phải có sự thông gió tốt.

Cùng xem video ứng dụng của đá khô dưới đây:

Làm sạch hồ bơi bằng khí Clo

Một điều dễ thấy khi đến các hồ bơi, là chúng ta sẽ ngửi thấy mùi đặc trưng của khí clo. Như vậy người ta đã sử dụng khí Clo để làm sạch bể bơi như thế nào?

Hiện tại, Clo và các hợp chất clo được sử dụng rộng rãi trong đời sống như để khử trùng, tẩy trắng, sản xuất chất dẻo và các sản phẩm liên quan.

Trong các hồ bơi, clo dùng để khử nước hồ khỏi các vi khuẩn có thể nguy hại cho con người. Clo diệt vi khuẩn qua một phản ứng hóa học khá đơn giản. Dung dịch clo khi hòa vào trong nước sẽ phân hủy thành axit hypoclorơ (HOCl) và ion hypoclorit (OCl-). Cả hai chất này giết chết các vi sinh vật và vi khuẩn bằng cách tấn công vào lớp lipid của thành tế bào rồi phá hủy các enzym và các cấu trúc bên trong tế bào khiến chúng bị ôxi hóa, trở nên vô hại. Sự khác biệt giữa HOCl và OCl- là tốc độ ôxi hóa của chúng. Axit hypoclorơ có khả năng ôxi hóa các vi sinh vật chỉ trong vài giây, trong khi các ion hypoclorit có thể mất đến 30 phút.

Hoạt tính của HOCl và OCl- thay đổi theo độ pH của hồ bơi. Nếu độ pH quá cao, không đủ lượng HOCl trong hồ bơi thì quá trình làm sạch có thể mất nhiều thời gian hơn bình thường. Độ pH lý tưởng nhất trong hồ bơi khoảng giữa 7 – 8 mà 7,4 là lý tưởng nhất vì đây cũng chính là độ pH trong nước mắt con người.
Sau khi HOCl và OCl- đã hoàn tất quá trình làm sạch các hồ bơi, chúng sẽ kết hợp với hóa chất khác, như một hợp chất có nitơ hay amoniắc hoặc chia thành các nguyên tử đơn và mất hoạt tính. Ánh sáng mặt trời cũng góp phần làm tăng tốc độ các quá trình này. Chính vì thế, người ta cần phải tiếp tục thêm clo vào hồ bơi để quá trình làm sạch diễn ra liên tục. Ngoài ra, clo còn có vị trí quan trọng trong công nghệ xử lý nước uống khử các vi khuẩn và tảo trong nước bẩn, làm thuốc tẩy trắng quần áo và đồ dùng.

Nhưng có một điều cần lưu ý là, bên cạnh đặc tính khử vi khuẩn rất hữu ích của clo, nó cũng có một số tác dụng phụ có thể gây phiền nhiễu cho con người thậm chí có thể gây nguy hiểm. Clo có mùi rất đặc biệt khá khó chịu thậm chí với nồng độ cao gây khó thở. Ngoài ra, clo còn có thể gây kích ứng cho một số loại da gây ngứa, rát. Các ion hypoclorit làm cho nhiều loại vải bạc màu và sờn nhanh chóng nếu không gột sạch ngay sau khi rời khỏi hồ bơi.

Chính vì vậy, ngày nay, một số công ty đã phát triển một số loại hóa chất khác để thay thế cho clo. Mặc dù vậy, cho đến nay clo vẫn là giải pháp tối ưu cho việc khử trùng, tẩy trắng với hiệu quả cao và giá rẻ.

Tận dụng khí thải CO2 làm nguyên liệu thô cho ngành nhựa

 

 

Qua các cuộc thí nghiệm, các quá trình nghiên cứu của các nhà khoa học, khí CO2 sẽ được sử dụng là nguyên liệu thô mới trong ngành nhựa, đây là một bước tiến mới, khí CO2 phổ biến trong ngành khí công nghiệp, thì nay sẽ là một nguyên liệu mới trong ngành sản xuất nhựa. Việc bắt đầu sản xuất với số lượng lớn chất này sẽ được thực hiện từ năm 2015.

 

Tập đoàn Bayer là doanh nghiệp đã phát hiện ra điều này. Doanh nghiệp này đã bắt đầu lên kế hoạch xây dựng nhà máy sản xuất tại Dormagen, Đức. Foam là nguyên liệu được ứng dụng trong nhiều vật dụng hàng ngày, bao gồm ghế bọc da, phụ tùng ôtô, thiết bị điện lạnh và vật liệu cách nhiệt cho các tòa nhà. Khí CO2 sẽ được sử dụng sản xuất chất tiền thân cho vật liệu foam chất lượng cao. Các buổi thử nghiệm nội bộ cho thấy foam mới đạt chất lượng cao, ít nhất là tương đương với chất lượng vật liệu thông thường sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch. Chính vì thế, việc sử dụng khí thải cacbon điôxít sẽ mang lại lợi ích cho môi trường.

Khí  CO2 - cung cấp khí CO2 uy tín

Dùng khí thải CO2 làm nguyên liệu sản xuất nhựa

Ông Patrick Thomas, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của nhánh Bayer MaterialScience phát biểu: “khí CO2 thay thế những nguyên liệu hóa thạch thô như dầu mỏ, được xem như là nguyên liệu không thể thay thế. Chính điều đó giúp chúng tôi trở thành một trong những công ty đầu tiên trên toàn cầu có cách tiếp cận khác trong ngành sản xuất foam chất lượng cao và khí thải trở thành nguyên liệu thô hữu ích và mang lại lợi nhuận Giai đoạn đầu công ty sẽ sử dụng khí CO2 mới để sản xuất foam mềm cung cấp cho ngành sản xuất nệm”

 

Việc tận dụng khí thải CO2 không những góp phần bảo vệ môi trường, giảm áp lực hiệu ứng nhà kính gây ra do việc lượng khí thải CO2 ngày càng gia tăng, mà nó còn góp phần vào việc tạo ra nguồn lợi nhuận đáng kể cho tập đoàn Bayer trong tương lai.

 

Tác giả (c) LinhLinh Kenjo

 

 

 

Làm sạch bể bơi bằng khí Clo

Một điều dễ thấy khi đến các hồ bơi, là chúng ta sẽ ngửi thấy mùi  đặc trưng của clo. Như vậy người ta đã sử dụng Clo để làm sạch bể bơi như thế nào?

Các hợp chất clo được sử dụng rộng rãi trong đời sống như để khử trùng, tẩy trắng, sản xuất chất dẻo và các sản phẩm liên quan.

Khi-clo

Làm sạch bể bơi bằng Clo

Trong các hồ bơi, clo dùng để khử nước hồ khỏi các vi khuẩn có thể nguy hại cho con người. Clo diệt vi khuẩn qua một phản ứng hóa học khá đơn giản. Dung dịch clo khi hòa vào trong nước sẽ phân hủy thành axit hypoclorơ (HOCl) và ion hypoclorit (OCl-). Cả hai chất này giết chết các vi sinh vật và vi khuẩn bằng cách tấn công vào lớp lipid của thành tế bào rồi phá hủy các enzym và các cấu trúc bên trong tế bào khiến chúng bị ôxi hóa, trở nên vô hại. Sự khác biệt giữa HOCl và OCl- là tốc độ ôxi hóa của chúng. Axit hypoclorơ có khả năng ôxi hóa các vi sinh vật chỉ trong vài giây, trong khi các ion hypoclorit có thể mất đến 30 phút.

Hoạt tính của HOCl và OCl- thay đổi theo độ pH của hồ bơi. Nếu độ pH quá cao, không đủ lượng HOCl trong hồ bơi thì quá trình làm sạch có thể mất nhiều thời gian hơn bình thường. Độ pH lý tưởng nhất trong hồ bơi khoảng giữa 7 – 8 mà 7,4 là lý tưởng nhất vì đây cũng chính là độ pH trong nước mắt con người.

Sau khi HOCl và OCl- đã hoàn tất quá trình làm sạch các hồ bơi, chúng sẽ kết hợp với hóa chất khác, như một hợp chất có nitơ hay amoniắc hoặc chia thành các nguyên tử đơn và mất hoạt tính. Ánh sáng mặt trời cũng góp phần làm tăng tốc độ các quá trình này. Chính vì thế, người ta cần phải tiếp tục thêm clo vào hồ bơi để quá trình làm sạch diễn ra liên tục. Ngoài ra, clo còn có vị trí quan trọng trong công nghệ xử lý nước uống khử các vi khuẩn và tảo trong nước bẩn, làm thuốc tẩy trắng quần áo và đồ dùng.

Khí-Clo

Clo để tẩy sạch bể bơi

Nhưng có một điều cần lưu ý là, bên cạnh đặc tính khử vi khuẩn rất hữu ích của clo, nó cũng có một số tác dụng phụ có thể gây phiền nhiễu cho con người thậm chí có thể gây nguy hiểm. Clo có mùi rất đặc biệt khá khó chịu thậm chí với nồng độ cao gây khó thở. Ngoài ra, clo còn có thể gây kích ứng cho một số loại da gây ngứa, rát. Các ion hypoclorit làm cho nhiều loại vải bạc màu và sờn nhanh chóng nếu không gột sạch ngay sau khi rời khỏi hồ bơi.

Chính vì vậy, trong ngành sản xuất khí công nghiệp ngày nay, một số công ty đã phát triển một số loại hóa chất khác để thay thế cho clo. Mặc dù vậy, cho đến nay clo vẫn là giải pháp tối ưu cho việc khử trùng, tẩy trắng với hiệu quả cao và giá rẻ.

 

 

Hướng nghiên cứu tổng hợp NH3 trong tương lai

– Hiện nay trên thế giới, người ta đang nghiên cứu các phương pháp mới để tổng hợp NH3, nhất là tổng hợp ở nhiệt độ và áp suất thường. Các nhà hóa học tại Đại học Tổng hợp Oregon, Mỹ, đã điều chế được amoniac từ nitơ ở nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển bình thường. Đây là bước đột phá quan trọng để đạt được một trong những mục tiêu đầy ý nghĩa của ngành khí công nghiệp, công nghiệp hóa chất – sản xuất phân đạm trong những điều kiện ít khắc nghiệt và với giá thành thấp hơn.

Khí NH3

Thùng đựng khí NH3

Quá trình phản ứng này được giáo sư hóa học David Tyler và hai nghiên cứu sinh của ông là John Gilberton và Nate Szymczak tìm ra và thực hiện.
Tuy phương pháp mới đã đưa ra được giải pháp cho một vấn đề khoa học có ý nghĩa lớn, nhưng có thể còn cần phải hàng nhiều năm nữa thì phương pháp này mới có thể được áp dụng một cách có hiệu quả kinh tế trong sản xuất công nghiệp.
– Trong một số vi sinh vật trong tự nhiên, nhờ có enzym nitrogenases nên có khả năng chuyển ni tơ không khí thành NH3. Quá trình này được gọi là quá trình cố định đạm (nitơ). Hiện nay người ta chưa đặt vấn đề áp dụng quá trình “phỏng sinh học” này vào các quá trình sản xuất công nghiệp để cạnh tranh với quá trình Haber, mà các nhà khoa học chỉ hy vọng tìm hiểu bản chất của quá trình cố định đạm trong sinh vật. Một phát hiện rất ấn tượng liên quan đến vấn đề này là đã tìm ra vùng hoạt động của enzym cố định đạm có cấu trúc dị thường Fe7MoS9.

You might also likeclose