Ứng dụng bảo quản thi hài bằng đá khô

Với đặc điểm ưu việt của Đá khô (Co2 rắn) trong bảo quản lạnh (nhiệt độ lạnh sâu, tan dần thành khí mà không chảy thành nước như đá nước thông thường), nên đá khô Co2 rất phù hợp để bảo quản thi hài trong đám tang, vận chuyển đường xa.

Chuyển hóa ngay thành khí nên đá khô được sử dụng cho việc ướp xác

Chuyển hóa ngay thành khí nên đá khô được sử dụng cho việc ướp xác

Đá khô (Co2 rắn) khi đặt xung quanh thi hài để bảo quản giữ lạnh lâu và giữ cho thi hài khô ráo. Bởi khi đá tan ra sẽ thăng hoa ngay thành khí. Thời gian tan hoàn toàn thành khí của 1 kg đá CO2 khoảng 18 – 20h, vì vậy với một lượng đá khô thích hợp sẽ bảo quản thi hài trong thời gian lâu hơn.

Thông tin chi tiết về đá khô xem tại đây : http://indochinagas.com.vn/da-kho-co2-ran/

Đá Khô – ứng dụng làm sạch trong tương lai

Làm sạch bằng đá khô là một phương pháp vệ sinh cách mạng mà nó sử dụng những viên đá khô ( CO2 ở dạng rắn) làm nguyên liệu để bắn vào bề mặt cần làm sạch. Quy trình này rất thân thiện với môi trường và là phương pháp vệ sinh thiết bị sản xuất công nghiệp nhanh chóng và hiệu quả thay thế phương pháp truyền thống.

Vệ sinh bụi bẩn, gỉ sét với đá khô

Vệ sinh bụi bẩn, gỉ sét với đá khô

I. Làm sạch bằng đá khô là một quy trình kết hợp bởi 3 quá trình:

1. Động học. Khi những viên đá khô được gia tốc trong vòi phun khí nén và đập vào bề mặt với vận tốc âm thanh, chúng bẻ gãy và đánh bật lớp bám bên ngoài trên bề mặt cần được xử lý.

2. Nhiệt học. Nhiệt độ thấp của những viên đá khô (-79° C) làm cho lớp bám ngoài trở nên giòn, đột ngột co lại và tách ra khỏi bề mặt cần làm sạch. Nhiệt độ thấp cho phép đá khô xuyên qua lớp bám ngoài, bẻ gãy và đánh bật chúng.

3. Sự thăng hoa. Đá khô xuyên qua lớp bám ngoài và ngay lập tức thăng hoa (chuyển trực tiếp từ dạng rắn sang dạng khí). Điều này dẫn đến thể tích tăng lên 700 lần tạo nên một hiệu ứng nổ đánh bật lớp bám ngoài ra khỏi bề mặt.

II. Lợi ích của việc làm sạch bằng đá khô:

Tiết kiệm thời gian vệ sinh: Phương pháp làm sạch thông thường yêu cầu phải ngường thiết bị, tháo rời và đưa đến khu vực riêng để thao tác. Với phương pháp sử dụng đá khô, thiết bị được làm sạch tại chỗ, không cần tháo rời, thậm chí không cần dừng sản xuất trong một số trường hợp cụ thể.

Làm sạch kỹ lưỡng: Những khe nhỏ hay góc nhỏ của thiết bị sẽ không dễ dàng vệ sinh nếu sử dụng các biện pháp thông thường. Với sự linh hoạt các đầu vòi phun sự khó khăn trên trở lên đơn giản khi sử dụng phương pháp làm sạch bằng đá khô.

Không có chất thải thứ cấp: Chất thải sau khi làm sạch bằng đá khô toàn bộ là chất bẩn được loại bỏ khỏi bề mặt. Không có nước bẩn, cát bẩn hay hóa chất tẩy rửa như các phương pháp cũ. Việc sử lý chất thải trở lên đơn giản và tiết kiệm chi phí.

Không làm mài mòn bề mặt: Phun cát, dùng bàn chải hoặc dùng hóa chất tẩy rửa có thể làm hư hỏng bề mặt cần làm sạch, mài mòn bề mặt hoàn toàn không xẩy ra đối với phương pháp làm sạch bằng đá khô.

Chi phí thấp hơn: Thời gian chết của máy móc thiết bị được giảm xuống – năng suất sản xuất được tăng lên. Vệ sinh tại chỗ không cần tháo dỡ thiết bị – giảm thời gian chết của dây truyền. Không cần hóa chất và dung môi – không phải sử lý chất thải độc hại. Không làm hư hỏng bề mặt làm sạch – tăng tuổi thọ thiết bị.

An toàn và thân thiện với môi trường: Co2 không độc: An toàn cho người lao động; an toàn cho sản phẩm được sản xuất trên dây truyền; an toàn cho thiết bị và thân thiện với môi trường.

III. Ứng dụng của phương pháp làm sạch bằng đá khô:

Được ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các ngành công nghiệp. Các chất bẩn được loại bỏ hoàn toàn và hiệu quả vượt trội như sơn, gỉ sắt, dầu mỡ, các chất kết dính phải dùng dung môi với phương pháp thông thường, nhựa đường…

LinhLinh Kenjo

Nguy hiểm từ việc dùng đá khô không đúng cách

Đá khô được biết tới với rất nhiều ứng dụng trong đời sống : vệ sinh trong công nghiệp, tạo khói, giữ lạnh cho thực phẩm hơn nữa là dùng trong công nghệ ướp xác…. Nhưng nếu xử dụng không đúng cách thì đá khô lại là thứ mang lại nguy hiểm cho người dùng.

Khí CO2 - cung cấp khí CO2 uy tín

 

Trước thông tin hiện nay nhiều quán nước, nhà hàng sử dụng đá khô – loại đá không tan – thay cho đá nước khiến nhiều người sau khi sử dụng nước cảm thấy khó thở, chóng mặt, buồn nôn…, phóng viên đã đi khảo sát thực tế và trao đổi với các chuyên gia để tìm hiểu thực hư.

Sáng ngày 19/6, phóng viên có mặt tại một số cơ sở kinh doanh đá khô theo địa chỉ rao bán trên mạng để tìm hiểu thực hư của đá khô đang được dư luận quan tâm. Qua tìm hiểu cho thấy, đá khô được bảo quản trong thùng xốp cách nhiệt, để nơi nhiệt độ thấp, tránh ánh sáng trực tiếp. Kích thước viên đá tùy thuộc vào khuôn, dao động trong khoảng 1,5kg – 2,2kg/1 viên. Thùng chứa đá khô không được kín hoàn toàn vì khi thăng hoa, đá khô tạo thành khí sẽ làm tăng áp suất của thùng chứa, có thể gây nổ hoặc phá vỡ thùng chứa. Để giữ đá được lâu sau khi xuất ra khỏi kho giữ nhiệt, cần phải đóng gói qua nhiều lớp giấy và nilon, nhất thiết phải đựng trong hộp xốp để bảo quản. Bà Bích Ngọc ở 51 Đại Cồ Việt – Hà Nội cho biết, người sử dụng tuyệt đối không tiếp xúc trực tiếp với da trần mà sử dụng găng tay để tránh bị bỏng lạnh, càng không nên để trong tủ lạnh. Không nên mua dự trữ vì đá sẽ bay hơi theo thời gian. Nếu để 1 viên đá khô khoảng 2kg ra sân với nhiệt độ ngoài trời, chỉ khoảng 3 giờ sau, viên đá sẽ bốc hơi hết.

 

Đá khô hay CO2 rắn- Đá khói

Đá khô hay CO2 rắn- Đá khói

Khảo sát một số cơ sở sản xuất đá khô đều có một điểm chung là vận chuyển miễn phí nội thành nếu khách hàng mua từ 3kg trở lên (cơ sở sẽ bù hao hụt). Anh Nguyễn Đình Tú – một chủ cơ sở sản xuất đá khô phố Pháo Đài Láng chia sẻ, hiện nay, nhu cầu đá khô được nhiều người sử dụng. Khảo sát của PV có rất nhiều địa chỉ được rao bán trên mạng nhưng thực chất chỉ là địa điểm để giao dịch chứ kho và cơ sở sản xuất được đặt ở một nơi khác, nếu khách hàng cần mua có thể giao dịch qua điện thoại, số lượng bao nhiêu cũng có. Nếu so sánh với các cơ sở sản xuất đá sạch với 1 túi đá khoảng 5kg được bán với giá 6.000 – 7.000 đồng/túi thì đá khô bán đắt gấp 5 lần vì giá dao động từ 30.000 – 35.000 đồng/1kg. Cần phải sử dụng đá khô đúng cách Theo GS. Trần Hồng Côn – Giảng viên ĐH Khoa học Tự nhiên, loại đá này có bán trên thị trường rất nhiều. Đây là đá khô hay còn gọi với nhiều tên khác là đá khói, đá CO2 hay băng khói. Đá khô được sử dụng nhiều trong ngành công nghệ thực phẩm. Loại đá này được sản xuất bằng cách nén khí điôxít cacbon (CO2) thành dạng lỏng, loại bỏ nhiệt gây ra bởi quá trình nén và sau đó cho CO2 lỏng giãn nở nhanh. Sự giãn nở này làm giảm nhiệt độ và làm cho một phần CO2 bị đóng băng thành “tuyết”, sau đó “tuyết” này được nén thành các viên hay khối. Đá khô thường dùng để làm lạnh hay bảo quản rau quả tươi, thủy hải sản… Ngoài ra, đá khô dùng để bảo quản mô sinh vật và thiết bị y tế, vệ sinh công nghiệp, bảo quản thi hài, tạo các hiệu ứng khói trong sân khấu tiệc cưới, ca nhạc… Tuy nhiên, GS. Côn cảnh báo, cần phải sử dụng đúng cách, nếu không rất dễ gây ngộ độc CO2, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng. Đồng thời, khi tiếp xúc với đá khô, người sử dụng phải dùng găng tay cách nhiệt thích hợp như bao tay bằng cao su để di chuyển đá, không được chạm tay trực tiếp với loại đá này. Đá khô gây kích thích da và mắt. Tránh tiếp xúc với da, miệng, mắt và quần áo. Nếu trực tiếp cầm loại đá này hoặc nếu đưa cả viên đá khô vào miệng, ngoài nguy cơ bị ngộ độc, người sử dụng có thể bị lột da lưỡi, lột da tay do bị bỏng lạnh. TS. Hoàng Hoan – Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam cho rằng, thông thường, các chất đều có ngưỡng hóa học. Khi uống hoặc hít phải một lượng khí CO2 lớn sẽ gây độc tố. Tuy nhiên, dạng CO2 rắn này có nhiều cách làm, phải phân tích cụ thể thành phần mới có thể kết luận. Người sử dụng cũng không nên quá lo ngại. Trong cuộc sống hàng ngày, mọi người dễ gặp loại đá này trong các tiệc cưới khi cô dâu chú rể rót sâm panh vào tháp đá. Chỉ cần tránh xa hoặc nếu tiếp xúc thì nên sử dụng găng tay cách nhiệt sẽ không gây nguy hiểm.

Đá khô gây bỏng lạnh khi tiếp xúc trực tiếp

Đá khô gây bỏng lạnh khi tiếp xúc trực tiếp

Theo BS. Hà Phương (bacsinoitru.vn), đá khô không gây cháy hoặc nổ nhưng nó tạo ra áp suất do nó chuyển từ trạng thái đá khô rắn sang trạng thái khí carbon dioxide. Nếu đá khô được đặt vào một thùng niêm phong kín thì sẽ có nguy cơ vỡ thùng hoặc bật tung nắp thùng khi bạn mở nó. “Quả bom đá khô” tạo ra tiếng động rất lớn và làm bắn ra các mảnh thùng và mảnh đá khô. Bạn có thể bị tổn hại thính giác hoặc bị tổn thương do thùng đựng đá khô. Các mảnh đá khô cũng có thể găm vào da bạn khiến bạn tê cóng bên trong. Ðể tránh mối nguy hiểm này, không để đá khô trong chai, lọ hoặc thiết bị làm mát niêm phong kín. Tốt nhất nên bọc đá khô trong một túi giấy và để vào tủ lạnh hoặc thiết bị làm lạnh không niêm phong chặt chẽ.

LinhLinh Kenjo

Đá Khô – Công nghệ làm đá cả ngày không tan

Nhiều người thắc mắc tại sao lại có những loại đá cả ngày mà không thấy tan hết, liệu có độc hại gì không, đó có phải đá bình thường hay 1 loại chất hóa học nào ? 

Mới đây, nhiều người dân hoang mang trước thông tin một số quán nước đã sử dụng một loại đá viên có đặc tính đặc biệt, để ra ngoài không khí một thời gian dài nhưng không tan chảy – hoặc có tan chảy thì cũng rất ít. Khi uống nước có loại đá này, nhiều người có cảm giác cháy họng hay cầm nắm viên đá thấy có hiện tượng bỏng rát ở tay…

Vậy cơ chế khoa học để tạo nên loại đá đặc biệt này là gì? Liệu chúng có gây hại cho sức khỏe?

Đá khô có nhiều dạng - dạng tảng, dạng bún....

Đá khô có nhiều dạng – dạng tảng, dạng bún….

Qua xác minh, đây chính là nước đá khô hay còn gọi là đá khói, đá CO2, băng khói… Khác với loại đá thông thường được làm từ nước đóng băng, đá khô được sản xuất bằng cách nén khí dioxit carbon (CO2) thành dạng lỏng, loại bỏ nhiệt trong quá trình nén, sau đó cho CO2 lỏng giãn nở nhanh.

Sự giãn nở này làm giảm nhiệt độ và làm một phần CO2 bị đóng băng thành “tuyết”. Sau đó, phần “tuyết” sẽ được nén thành các viên hay khối lớn.

Nhiệt độ của đá khô rất thấp, khoảng - 78,5 độ C nên khi thăng hoa thành hơi chứ không hóa lỏng.

Nhiệt độ của đá khô rất thấp, khoảng – 78,5 độ C nên khi thăng hoa thành hơi chứ không hóa lỏng.

Chính bởi nhiệt độ thấp (khoảng – 78,5 độ C) và khi “thăng hoa”, bốc hơi thành khí chứ không như nước đá, tan ra thành nước. Chính vì lẽ đó mà đá khô thường được dùng để làm lạnh hay bảo quản rau quả tươi, thủy hải sản.

Ngoài ra, đá khô còn được dùng để bảo quản mô sinh vật trong y học, bảo quản thi hài, tạo hiệu ứng khói trên sân khấu… Khi đá khô tiếp xúc với nước, nó cô đặc và tạo thành một dạng sương mù trắng dày.

Khi đá khô tiếp xúc với nước sẽ tạo ra một dạng sương mù trắng dày.

Khi đá khô tiếp xúc với nước sẽ tạo ra một dạng sương mù trắng dày.

Mặc dù về bản chất, đá khô vô hại nhưng nếu không sử dụng đúng cách, chúng ta rất dễ bị ngộ độc CO2, bị bỏng, thậm chí dẫn đến tử vong. Chính vì được sản xuất bằng cách nén khí CO2 nên khi tan, đá khô sẽ tạo thành lớp khí CO2.

Khi uống nước có chứa đá khô, hay để khối đá khô lớn trong phòng kín, cơ thể sẽ có hiện tượng như bị ngộ độc khí CO2. Theo đó, người bệnh sẽ lên cơn hen phế quản, suy tim, nặng hơn là hôn mê sâu, nếu tỉnh thì cũng để lại di chứng như mất trí nhớ.

Đá khô không biết cách sử dụng có thể gây hại cho con người.

Đá khô không biết cách sử dụng có thể gây hại cho con người.

Với nhiệt độ thấp, đá khô có thể làm da cháy lạnh (hiện tượng bỏng lạnh), rát cổ họng (khi sử dụng nước có chứa đá khô). Do đó, bạn nên dùng găng tay khi cầm nước đá khô. Nếu dùng nước đá khô ở trong phòng kín thì cần phải có sự thông gió tốt.

Cùng xem video ứng dụng của đá khô dưới đây:

Làm sạch hồ bơi bằng khí Clo

Một điều dễ thấy khi đến các hồ bơi, là chúng ta sẽ ngửi thấy mùi đặc trưng của khí clo. Như vậy người ta đã sử dụng khí Clo để làm sạch bể bơi như thế nào?

Hiện tại, Clo và các hợp chất clo được sử dụng rộng rãi trong đời sống như để khử trùng, tẩy trắng, sản xuất chất dẻo và các sản phẩm liên quan.

Trong các hồ bơi, clo dùng để khử nước hồ khỏi các vi khuẩn có thể nguy hại cho con người. Clo diệt vi khuẩn qua một phản ứng hóa học khá đơn giản. Dung dịch clo khi hòa vào trong nước sẽ phân hủy thành axit hypoclorơ (HOCl) và ion hypoclorit (OCl-). Cả hai chất này giết chết các vi sinh vật và vi khuẩn bằng cách tấn công vào lớp lipid của thành tế bào rồi phá hủy các enzym và các cấu trúc bên trong tế bào khiến chúng bị ôxi hóa, trở nên vô hại. Sự khác biệt giữa HOCl và OCl- là tốc độ ôxi hóa của chúng. Axit hypoclorơ có khả năng ôxi hóa các vi sinh vật chỉ trong vài giây, trong khi các ion hypoclorit có thể mất đến 30 phút.

Hoạt tính của HOCl và OCl- thay đổi theo độ pH của hồ bơi. Nếu độ pH quá cao, không đủ lượng HOCl trong hồ bơi thì quá trình làm sạch có thể mất nhiều thời gian hơn bình thường. Độ pH lý tưởng nhất trong hồ bơi khoảng giữa 7 – 8 mà 7,4 là lý tưởng nhất vì đây cũng chính là độ pH trong nước mắt con người.
Sau khi HOCl và OCl- đã hoàn tất quá trình làm sạch các hồ bơi, chúng sẽ kết hợp với hóa chất khác, như một hợp chất có nitơ hay amoniắc hoặc chia thành các nguyên tử đơn và mất hoạt tính. Ánh sáng mặt trời cũng góp phần làm tăng tốc độ các quá trình này. Chính vì thế, người ta cần phải tiếp tục thêm clo vào hồ bơi để quá trình làm sạch diễn ra liên tục. Ngoài ra, clo còn có vị trí quan trọng trong công nghệ xử lý nước uống khử các vi khuẩn và tảo trong nước bẩn, làm thuốc tẩy trắng quần áo và đồ dùng.

Nhưng có một điều cần lưu ý là, bên cạnh đặc tính khử vi khuẩn rất hữu ích của clo, nó cũng có một số tác dụng phụ có thể gây phiền nhiễu cho con người thậm chí có thể gây nguy hiểm. Clo có mùi rất đặc biệt khá khó chịu thậm chí với nồng độ cao gây khó thở. Ngoài ra, clo còn có thể gây kích ứng cho một số loại da gây ngứa, rát. Các ion hypoclorit làm cho nhiều loại vải bạc màu và sờn nhanh chóng nếu không gột sạch ngay sau khi rời khỏi hồ bơi.

Chính vì vậy, ngày nay, một số công ty đã phát triển một số loại hóa chất khác để thay thế cho clo. Mặc dù vậy, cho đến nay clo vẫn là giải pháp tối ưu cho việc khử trùng, tẩy trắng với hiệu quả cao và giá rẻ.

Tận dụng khí thải CO2 làm nguyên liệu thô cho ngành nhựa

 

 

Qua các cuộc thí nghiệm, các quá trình nghiên cứu của các nhà khoa học, khí CO2 sẽ được sử dụng là nguyên liệu thô mới trong ngành nhựa, đây là một bước tiến mới, khí CO2 phổ biến trong ngành khí công nghiệp, thì nay sẽ là một nguyên liệu mới trong ngành sản xuất nhựa. Việc bắt đầu sản xuất với số lượng lớn chất này sẽ được thực hiện từ năm 2015.

 

Tập đoàn Bayer là doanh nghiệp đã phát hiện ra điều này. Doanh nghiệp này đã bắt đầu lên kế hoạch xây dựng nhà máy sản xuất tại Dormagen, Đức. Foam là nguyên liệu được ứng dụng trong nhiều vật dụng hàng ngày, bao gồm ghế bọc da, phụ tùng ôtô, thiết bị điện lạnh và vật liệu cách nhiệt cho các tòa nhà. Khí CO2 sẽ được sử dụng sản xuất chất tiền thân cho vật liệu foam chất lượng cao. Các buổi thử nghiệm nội bộ cho thấy foam mới đạt chất lượng cao, ít nhất là tương đương với chất lượng vật liệu thông thường sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch. Chính vì thế, việc sử dụng khí thải cacbon điôxít sẽ mang lại lợi ích cho môi trường.

Khí  CO2 - cung cấp khí CO2 uy tín

Dùng khí thải CO2 làm nguyên liệu sản xuất nhựa

Ông Patrick Thomas, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của nhánh Bayer MaterialScience phát biểu: “khí CO2 thay thế những nguyên liệu hóa thạch thô như dầu mỏ, được xem như là nguyên liệu không thể thay thế. Chính điều đó giúp chúng tôi trở thành một trong những công ty đầu tiên trên toàn cầu có cách tiếp cận khác trong ngành sản xuất foam chất lượng cao và khí thải trở thành nguyên liệu thô hữu ích và mang lại lợi nhuận Giai đoạn đầu công ty sẽ sử dụng khí CO2 mới để sản xuất foam mềm cung cấp cho ngành sản xuất nệm”

 

Việc tận dụng khí thải CO2 không những góp phần bảo vệ môi trường, giảm áp lực hiệu ứng nhà kính gây ra do việc lượng khí thải CO2 ngày càng gia tăng, mà nó còn góp phần vào việc tạo ra nguồn lợi nhuận đáng kể cho tập đoàn Bayer trong tương lai.

 

Tác giả (c) LinhLinh Kenjo

 

 

 

Làm sạch bể bơi bằng khí Clo

Một điều dễ thấy khi đến các hồ bơi, là chúng ta sẽ ngửi thấy mùi  đặc trưng của clo. Như vậy người ta đã sử dụng Clo để làm sạch bể bơi như thế nào?

Các hợp chất clo được sử dụng rộng rãi trong đời sống như để khử trùng, tẩy trắng, sản xuất chất dẻo và các sản phẩm liên quan.

Khi-clo

Làm sạch bể bơi bằng Clo

Trong các hồ bơi, clo dùng để khử nước hồ khỏi các vi khuẩn có thể nguy hại cho con người. Clo diệt vi khuẩn qua một phản ứng hóa học khá đơn giản. Dung dịch clo khi hòa vào trong nước sẽ phân hủy thành axit hypoclorơ (HOCl) và ion hypoclorit (OCl-). Cả hai chất này giết chết các vi sinh vật và vi khuẩn bằng cách tấn công vào lớp lipid của thành tế bào rồi phá hủy các enzym và các cấu trúc bên trong tế bào khiến chúng bị ôxi hóa, trở nên vô hại. Sự khác biệt giữa HOCl và OCl- là tốc độ ôxi hóa của chúng. Axit hypoclorơ có khả năng ôxi hóa các vi sinh vật chỉ trong vài giây, trong khi các ion hypoclorit có thể mất đến 30 phút.

Hoạt tính của HOCl và OCl- thay đổi theo độ pH của hồ bơi. Nếu độ pH quá cao, không đủ lượng HOCl trong hồ bơi thì quá trình làm sạch có thể mất nhiều thời gian hơn bình thường. Độ pH lý tưởng nhất trong hồ bơi khoảng giữa 7 – 8 mà 7,4 là lý tưởng nhất vì đây cũng chính là độ pH trong nước mắt con người.

Sau khi HOCl và OCl- đã hoàn tất quá trình làm sạch các hồ bơi, chúng sẽ kết hợp với hóa chất khác, như một hợp chất có nitơ hay amoniắc hoặc chia thành các nguyên tử đơn và mất hoạt tính. Ánh sáng mặt trời cũng góp phần làm tăng tốc độ các quá trình này. Chính vì thế, người ta cần phải tiếp tục thêm clo vào hồ bơi để quá trình làm sạch diễn ra liên tục. Ngoài ra, clo còn có vị trí quan trọng trong công nghệ xử lý nước uống khử các vi khuẩn và tảo trong nước bẩn, làm thuốc tẩy trắng quần áo và đồ dùng.

Khí-Clo

Clo để tẩy sạch bể bơi

Nhưng có một điều cần lưu ý là, bên cạnh đặc tính khử vi khuẩn rất hữu ích của clo, nó cũng có một số tác dụng phụ có thể gây phiền nhiễu cho con người thậm chí có thể gây nguy hiểm. Clo có mùi rất đặc biệt khá khó chịu thậm chí với nồng độ cao gây khó thở. Ngoài ra, clo còn có thể gây kích ứng cho một số loại da gây ngứa, rát. Các ion hypoclorit làm cho nhiều loại vải bạc màu và sờn nhanh chóng nếu không gột sạch ngay sau khi rời khỏi hồ bơi.

Chính vì vậy, trong ngành sản xuất khí công nghiệp ngày nay, một số công ty đã phát triển một số loại hóa chất khác để thay thế cho clo. Mặc dù vậy, cho đến nay clo vẫn là giải pháp tối ưu cho việc khử trùng, tẩy trắng với hiệu quả cao và giá rẻ.

 

 

Hướng nghiên cứu tổng hợp NH3 trong tương lai

– Hiện nay trên thế giới, người ta đang nghiên cứu các phương pháp mới để tổng hợp NH3, nhất là tổng hợp ở nhiệt độ và áp suất thường. Các nhà hóa học tại Đại học Tổng hợp Oregon, Mỹ, đã điều chế được amoniac từ nitơ ở nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển bình thường. Đây là bước đột phá quan trọng để đạt được một trong những mục tiêu đầy ý nghĩa của ngành khí công nghiệp, công nghiệp hóa chất – sản xuất phân đạm trong những điều kiện ít khắc nghiệt và với giá thành thấp hơn.

Khí NH3

Thùng đựng khí NH3

Quá trình phản ứng này được giáo sư hóa học David Tyler và hai nghiên cứu sinh của ông là John Gilberton và Nate Szymczak tìm ra và thực hiện.
Tuy phương pháp mới đã đưa ra được giải pháp cho một vấn đề khoa học có ý nghĩa lớn, nhưng có thể còn cần phải hàng nhiều năm nữa thì phương pháp này mới có thể được áp dụng một cách có hiệu quả kinh tế trong sản xuất công nghiệp.
– Trong một số vi sinh vật trong tự nhiên, nhờ có enzym nitrogenases nên có khả năng chuyển ni tơ không khí thành NH3. Quá trình này được gọi là quá trình cố định đạm (nitơ). Hiện nay người ta chưa đặt vấn đề áp dụng quá trình “phỏng sinh học” này vào các quá trình sản xuất công nghiệp để cạnh tranh với quá trình Haber, mà các nhà khoa học chỉ hy vọng tìm hiểu bản chất của quá trình cố định đạm trong sinh vật. Một phát hiện rất ấn tượng liên quan đến vấn đề này là đã tìm ra vùng hoạt động của enzym cố định đạm có cấu trúc dị thường Fe7MoS9.

SF6 sử dụng trong công nghệ GIS

SF6 sử dụng trong công nghệ GIS

Trạm biến áp công nghệ GIS

Trạm GIS sử dụng SF6

Khí SF6 sử dụng trong biến thế

Trạm biến áp công nghệ GIS bao gồm các thiết bị đóng cắt kiểu kín cách điện bằng khí SF6 (thiết bị GIS – Gas Insulation Switchgear) trong các trạm biến áp là công nghệ tiên tiến hiện đang được ứng dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới nhiều năm trước đây. Ở nước ta việc ứng dụng công nghệ này còn hạn chế.

Trạm biến áp GIS 220kV 250 MVA Tao Đàn được đóng điện đưa vào vận hành tháng 11/2004, tiếp theo đó là Trạm biến áp GIS 220kV Bình Tân đã mở ra cho Việt Nam cơ hội đưa vào vận hành các trạm biến áp 110 đến 220kV khác trong lưới điện Quốc gia.

Trạm GIS rất thích hợp xây dựng tại trung tâm các thành phố lớn, nơi tiêu thụ công suất rất cao nhưng không có nhiều diện tích đất xây dựng các trạm điện sử dụng hệ thống đóng cắt truyền thống. Hệ thống thiết bị GIS có kích thước nhỏ gọn, xây dựng trên mặt bằng có diện tích chỉ bằng 1/10 diện tích xây dựng của một trạm biến áp loại ngoài trời có cùng quy mô và công suất.

Ưu điểm lớn nhất của việc đầu tư trạm điện sử dụng thiết bị GIS đó là trạm điện điện dạng này chiếm ít diện tích đất sử dụng nên tiết kiệm được rất nhiều chi phí mặt bằng. Ngoài ra, nhờ toàn bộ thiết bị được cách điện bằng khí và đặt trong đường ống sử dụng loại cách điện bằng khí SF6, không tiếp xúc với môi trường và bụi bẩn nên thiết bị đóng cắt công nghệ GIS rất an toàn khi vận hành, số lần bảo trì bảo dưỡng ít hơn nhiều so với trạm điện kiểu hở sử dụng thiết bị đóng cắt truyền thống.

Hiện chúng tôi cung cấp khí SF6 cho các trạm biến thế 110kv và các trạm GIS. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và cung cấp các sản phẩm khí công nghiệp và hóa chất công nghiệp

Sưu tập.

Tận dụng khí thải CO2, điều không phải ai cũng biết

 

 

– Tình hình tn dng khí CO2 hin nay

Thế giới ngày càng phát triển, khoa học công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện tượng biến đổi khí hậu đang ngày càng gia tăng, vì thế xử lý lượng khí CO2 hiện nay đang là vấn đề cần thiết. Hiện nay, có nhiều nước đã đầu tư công nghệ để tận dụng khí thi CO2 trong nhiều lĩnh vực đời sống.

Ở thời điểm hiện tại, phải nói là việc ứng dụng công nghệ tận dụng khí thải CO2 còn quá ít, chưa phổ biến.

Giáo sư Peter Styring của ĐHTH Sheffield (University of Sheffield) nói: “Có nhiều tiềm năng thực sự và chúng ta hiện đang ở giai đoạn thăm dò. Một số công nghệ cần thiết hiện đang có sẵn trong tay, một số đang ở trong gia đoạn nghiên cứu tiền khả thi và trong một số trường hợp, chúng ta cần phát minh ra nhiều loại hóa chất mới”.

– Thành tu tiêu biu trong tn dng khí thi CO2 trên thế gii:

+ Nuôi trồng tảo biển bằng khí thải CO2. Theo nghiên cứu cho thấy khi được nuôi trong bể hở bằng khí CO2, vi tảo này sẽ sinh trưởng lớn hơn gấp 1 triệu lần so với khi chúng sống dưới đáy biển. Và vi tảo biển phát triển tốt và nhanh hơn khi sử dụng khí CO2 thải ra từ các nhà máy nhiệt điện (CO2 chiếm 13%-14%) so với khí CO2 nguyên chất.   

Khí CO2 -  Nuôi tảo từ khí thải CO2

Nuôi tảo từ khí CO2 thải

X qung được xử lý bằng khí CO2 có thể trở thành một thứ vật liệu cứng vững dùng để chế tạo vật liệu xây dựng. Bơm khí CO2 vào các nhà kính trồng rau quả mang lại mùa màng bội thu và vào các thiết bị nuôi tảo, người ta có nhiên liệu sinh học… Khí thải CO2 cũng rất hữu ích đối với ngành công nghiệp sản xuất đồ uống.

+ Chế tạo các chất xúc tác biến khí thải CO2 thành các sản phẩm carbonat theo một chu trình khép kín. Các sản phẩm carbonat này có thế được sử dụng làm chất điện phân trong pin lithium ion; chất phụ gia trong dầu lửa, dầu diesel; nhiên liệu dùng cho máy bay; trong việc sản xuất polycarbonates và polyurethanes cũng như nhiều qui trình sản xuất hóa chất thương mại khác.
+ Nhiều qui trình CCU đòi hỏi nguồn cung năng lượng và các tác giả báo cáo lưu ý rằng nguồn năng lượng này có thể được sản xuất từ năng lượng tái tạo như năng lượng Mặt Trời, sức gió. Ngoài ra, việc sản xuất nhiên liệu sinh học từ khí thải CO2 cũng là một dạng năng lượng tái sinh nữa.
+ Chính quyền Mỹ đang chi 1 tỷ USD cho các chương trình nghiên cứu, trong đó có Phòng thí nghiệm Sandia, để chế tạo nhiên liu sinh hc t khí thi CO2. Chính phủ Đức cũng chi 118 triệu Euro (EUR) cho “kế hoạch sản xuất trong mơ” của tập đoàn Bayer. Ở Australia, người ta đang nghiên cứu sử dụng khí thải CO2 lấy từ các nhà máy nhiệt điện để sản xuất xi măng. Và ở nhiều nơi trên thế giới, khí thải CO2 được sử dụng trong việc trồng tảo qui mô công nghiệp để sản xuất nhiên liệu sinh học.

– Tr ngi trong tn dng khí thi CO2

Trở ngại duy nhất hiện nay là chi phí xây dng và vn hành ca các ng dng CCU hin khá cao, đôi khi cao gấp 10 lần như trường hợp sử dụng khí CO2 nuôi trồng tảo để sản xuất nhiên liệu sinh học. Chính vì vậy mà các chính phủ cần phải đầu tư nhiều hơn nữa cho nghiên cứu khoa học để hạ thấp chi phí và đánh thuế khí thải CO2 cao hơn nữa.

 

Google+

 

You might also likeclose